Archive for the ‘Doanh nhân’ Category

Đặng Lê Nguyên Vũ – Cà phê Trung Nguyên

Ra đời vào giữa năm 1996 -Trung Nguyên là 1 nhãn hiệu cà phê non trẻ của Việt Nam, nhưng đã nhanh chóng tạo dựng được uy tín và trở thành thương hiệu cà phê quen thuộc nhất đối với người tiêu dùng cả trong và ngoài nước.

Giấc mơ từ làng quê nghèo

dang-le-nguyen-vu
Hồi ức về những ngày tháng khởi nghiệp đầy lận đận và gian khó của ông Đặng Lê Nguyên Vũ, Giám đốc Công ty Cà phê Trung Nguyên. “Tôi có thể nói không sợ quá lời rằng sự xuất hiện của Trung Nguyên đã mang lại một không khí thưởng thức cà phê mới tại Việt Nam, và ở nhiều nơi trên thế giới giờ đây nói đến cà phê Việt Nam là người ta đều biết tới thương hiệu Trung Nguyên.

Tuổi thơ thời đi học của tôi là cảnh lội bộ trên con đường đất đỏ dài 15km trong suốt chín năm, ngày nắng cũng như mưa. Niềm vui trên con đường dài đến trường và về nhà là khi đi ngang qua trạm thuế vụ, thỉnh thoảng có được quả chuối chín hoặc vài củ khoai lang ăn sống của những người buôn bán tốt bụng cho.

Vui nhất là khi có thể quá giang phía sau chiếc xe chở gạch về nhà khi đôi chân đã muốn quị vì lội bộ. Năm tôi vào lớp 10, gia đình mua cho chiếc xe đạp cũ để lên Buôn Ma Thuột đi học.

Năm 1990, tôi thi đậu Đại học Y khoa Tây nguyên; từ xã Madrăk hẻo lánh, mẹ tôi phải bán đi nhiều tạ lúa và nhiều thứ khác trong nhà để tôi lên Buôn Ma Thuột nhập học. Những ngày học ở trường y, lúc nào tôi cũng trăn trở về công việc và cuộc sống của người thầy thuốc. Càng học lên, điều đó càng bứt rứt trong lòng tôi. Muốn có cuộc sống khấm khá hơn, phần nhiều những người học y chúng tôi đã quên lời thề Hippocrate. Xót xa quá! Và với tôi, cách tốt nhất không vi phạm lời thề là… bỏ nó luôn, làm việc khác. Nhưng làm gì đây?

Làm gì ở tuổi 22 tôi chưa biết được. Nhưng luôn thiêu đốt tôi là phải làm được điều gì đó để đổi đời, không thể nghèo mãi được. Mẹ tôi lam lũ quanh năm đầu tắt mặt tối, suốt ngày mặt người lẫn trong ruộng rau lang, chiếc nón cũ hiếm khi rời khỏi đầu. Tôi luôn hình dung lại được cảnh mẹ tôi nặng nhọc bưng từng chồng gạch, hay tất tả chạy ra ruộng rau lang hái đọt non đem bán kiếm miếng ăn cho cả nhà.

Mẹ tôi nghĩ cuộc sống nghèo khổ của gia đình chúng tôi là số mệnh ở trời. Mỗi lần tôi về thăm nhà thì mẹ tôi vừa vui vừa lo. Vui vì có con trai về thăm nhà và lo vì khi tôi rời nhà, bà cụ phải chạy vạy một hai trăm ngàn cho tôi làm lộ phí đến trường. Tôi không bao giờ quên được cái ngày tăm tối đó, khi bố tôi đổ bệnh nặng mà chạy vạy khắp trong dòng tộc không làm sao kiếm đủ 2 triệu đồng cho ông chữa bệnh!

Tôi ở trọ tại Buôn Ma Thuột và làm công luôn cho nhà trọ này: làm cỏ, hái cà phê, đem cơm nước cho nhân công ở rẫy… Ngày còn bé ở làng, tôi đã thạo hết những việc này.

“Đạp tung giường chiếu hẹp”

Tôi luôn nghĩ về những người trồng cà phê, làm vườn lam lũ như bố mẹ tôi. Tôi biết cà phê rất có giá nhưng không biết vì sao người trồng cà phê lại rất nghèo. Nhưng người trồng cà phê vẫn nhẫn nại mỗi ngày cháy da trên nương rẫy, như mẹ tôi, không lời thở than. Tôi không chịu được vậy. Nghĩ tới sự cam chịu là huyết quản tôi sôi sùng sục. Miếng ăn lúc đó đối với tôi không quan trọng bằng suy nghĩ phải sống như thế nào.

Mẹ tôi đã khóc gần như hết nước mắt khi tôi quyết định dứt áo ra đi. Nhiều bạn trong lớp bảo tôi… không bình thường, chỉ có ba người bạn có thể hiểu và chia sẻ được những điều tôi nghĩ – đó là không chấp nhận “ngủ trong giường chiếu hẹp, mơ những giấc mơ con”. Đám bạn vét hết tiền trong túi nhét cho tôi được gần 100.000 đồng.

Tôi ra bến xe đi vào Sài Gòn với một mảnh giấy nhỏ ba tôi ghi tên người chú và địa chỉ nhà ở khu vực Tạ Thu Thâu. 6 giờ sáng, đến bến xe miền Đông, trong túi tôi còn đúng 20.000 đồng. Gọi một ly cà phê vỉa hè 2.000 đồng, tôi ngồi nhâm nhi và mở to mắt nhìn Sài Gòn cho biết. Thành phố to quá, ngoài sự tưởng tượng của tôi. Tôi có cảm giác mình đã bước sang một thế giới hoàn toàn khác…

Quay lại giảng đường Đại học!

Chú tôi người Đà Nẵng, vào sống ở Sài Gòn đã lâu. Tôi chưa từng gặp mặt ông và dĩ nhiên ông cũng không thể biết có một đứa cháu là tôi. Mãi đến trưa chú tôi vẫn chưa về. Mệt, đói và buồn ngủ khủng khiếp. Tôi chỉ còn hơn 10.000 đồng, không thể phung phí được. Sau này, thỉnh thoảng tôi vẫn tìm lại cái góc nhà nơi mình đã ngồi lần đầu tiên khi đặt chân đến Sài Gòn.

May sao quá trưa thì có người bà con từ Đà Nẵng vào. Thím tôi báo vụ việc với người bà con và tôi được gọi vào nhà. Việc đầu tiên là đánh một giấc tới xế chiều. Mở mắt ra đã thấy chú tôi đợi sẵn. Hai chú cháu hàn huyên tâm sự. Tôi bày tỏ nỗi lòng của mình: một, quyết đi không trở lại; hai, việc gì cũng làm; ba, phải đổi đời. Tôi kể với chú những điều tôi nung nấu. Về chuyện nghèo là nhục. Về chuyện ba tôi bệnh mà cả dòng tộc không thể đào đâu ra đủ 2 triệu đồng…

Chú tôi nghe tất cả nhưng rồi “gút”: “Tất cả những điều cháu nung nấu đều đúng nhưng không phải lúc này. Việc lúc này là học cho xong cái đã”. Cuối cùng ông hứa: học cho xong đi rồi xuống Sài Gòn ông giúp cho làm ăn. Còn trước mắt cứ ở chơi, chừng nào chán thì về. Tôi ở đúng 10 ngày thì đầu óc dịu lại, nghĩ đến việc phải về tiếp tục học.

Hôm về, chú mua cho vé máy bay. Lần đầu tiên bay lên bầu trời, tôi đã sớm có mơ ước được bay đi khắp thế giới. Từ trên cao nhìn xuống mới thấy chuyện trần gian khổ nhọc sao mà nhỏ bé, tôi thấy bình tâm hơn trước dù những khao khát vẫn đang sùng sục trong huyết quản. Tôi trở lại giảng đường đại học để bắt đầu con đường riêng.

Lận đận trong khởi nghiệp

Tôi có ba đứa bạn rất thân cùng phòng trọ. Có lẽ là đứa nghèo nhất trong đám nên tôi cũng là người sùng sục trước nhất về chuyện phải làm ra tiền, phải làm giàu. Tôi nghĩ: Tại sao nông dân trồng cà phê vẫn nghèo trong khi trên thế giới có Quốc Gia không trồng được cây cà phê nào vẫn giàu vì cà phê? Tại sao cà phê mình chỉ để xuất hạt thô mà không chế biến để xuất khẩu? Bốn thằng chúng tôi cùng chia sẻ suy nghĩ này và hùn tiền lại mua một lò rang cà phê.

Thuận lợi của chúng tôi lúc đó là trong trường có đông sinh viên tứ xứ nên qua họ chúng tôi biết được nơi nào có cà phê ngon. Ở Tuy Hòa có một quán cà phê rất ngon nên ngày nghỉ chúng tôi đi xe đến để hỏi dò bí quyết nơi bà chủ quán. Khi chúng tôi trình bày lý do và nguyện vọng của mình, bà chủ quán thật sự cảm thông với mấy thằng sinh viên khố rách áo ôm. Đêm đến, trở về Buôn Ma Thuột trong chuyến xe khuya, chúng tôi có trong tay bí quyết rang xay cà phê ngon của bà chủ quán tốt bụng.

Ngày khai trương lò rang cà phê, chúng tôi cũng tổ chức cúng để lấy hên, nhưng khi vừa cúng xong thì người bà con của ông chủ nhà về đã hất đổ mọi thứ, cắt bỏ hết dây điện. Chúng tôi đành phải chuyển lò rang đi nơi khác. Lò quay bằng tay, đốt bằng củi, hôm nào rang cà phê, bên dưới là mấy thằng ngồi học bài trên cái gác gỗ như bị nướng trong lò bát quái. Có vài vị hàng xóm sợ có ngày chúng tôi sẽ thiêu rụi nhà họ nên đi báo công an. Thế là một lần nữa lò rang của chúng tôi đành phải dẹp.

Nhưng cũng có người giang tay với chúng tôi. Chúng tôi nhận về mỗi lần vài ba ký, rang, xay, đóng gói và chia nhau đi bỏ mối ở các quán. Sau đó thu tiền lại, trả và mượn tiếp vài ký khác. Logo của những bịch cà phê Trung Nguyên lúc đó là một mũi tên chĩa thẳng lên trời. Hình ảnh đơn giản ấy đã chứa trong đó biết bao khát vọng của tôi.

Thế rồi thương hiệu cà phê Trung Nguyên của nhóm “mấy thằng sinh viên khùng khùng” chúng tôi bắt đầu được chú ý và đã có khách uống cà phê ưa chuộng. Chúng tôi biết tuyển những hạt ngon để làm ra những phin cà phê đậm đà, thơm lừng. Năm 1996, chúng tôi quyết định “bung ra”. Khi “hãng” cà phê Trung Nguyên khai trương bảng hiệu ở cây số 3 (thành phố Buôn Ma Thuột) thì dân cư ở đây ai cũng phì cười trước cái “tổng hành dinh” ọp ẹp phát khiếp ấy! Toàn bộ bảng hiệu của “hãng” đều do chúng tôi bò ra tự vẽ, tự sơn phết cả đêm để kịp sáng mai khai trương. Mà khách hàng ngày khai trương không ai khác chính là những người bạn sinh viên học cùng trường, cùng lớp đến uống chung vui với chúng tôi.

Đó là một sự kiện trọng đại trong đời tôi và lịch sử phát triển của thương hiệu cà phê Trung Nguyên. Ngồi trong cái hãng nhỏ bé đáng tự hào của mình ở phố núi, tôi căng mắt nhìn về hướng Sài Gòn.

Trận đầu trong chuyến “viễn chinh” của chúng tôi đến Tp.HCM thảm bại hoàn toàn. Ngồi trên đống đổ nát mà mình dày công gầy dựng và qua đêm ở công viên với những người bạn, tôi cố gắng để không bị sụp đổ lòng tin và vẫn mãnh liệt nghĩ về ngày mai.

Chúng tôi biết Sài Gòn là mảnh đất đầy tiềm năng để kinh doanh cà phê nhưng hiểu rằng mình chưa đủ sức. Kế hoạch mới của chúng tôi là sẽ mở các điểm kinh doanh ở miền Tây, lấy vùng nông thôn rộng lớn này làm hậu thuẫn cho việc kinh doanh của mình để từ đó làm “bàn đạp bao vây” tiến về Sài Gòn.

Chúng tôi tìm được một đối tác ở Long Xuyên để mở lò rang xay chế biến, phân phối cà phê tại miền Tây. Nhưng chỉ sau một vài tháng, cuộc “hôn phối” vụng về này thất bại hoàn toàn. Tôi còn nhớ rất rõ cảm giác thất trận ê chề khi lục tục cuốn gói với lỉnh kỉnh những lò cà phê quay tay cũ kỹ, ly tách, phin, muỗng… Sự thất bại này giúp tôi rút ra được một bài học: hợp tác làm ăn phải đồng thuận về tư tưởng, về phương thức kinh doanh, và quan trọng nhất là phải chọn đúng đối tác.

Tôi còn nhớ sau khi dọn hết đồ đạc ở Long Xuyên về Sài Gòn, một người bạn chạy chiếc Honda Dame già cỗi đến đón tôi. Chạy đến công viên Bách Tùng Diệp (ngã ba Nam Kỳ Khởi Nghĩa – Lý Tự Trọng, Q.1) thì chiếc xe già gãy làm đôi! Tôi không bao giờ quên hình ảnh chúng tôi qua đêm ở công viên. Mỗi lần đi ngang nơi này, tôi vẫn nhớ như in những cảm xúc của sự thất bại ở Long Xuyên và tình bạn ấm áp dưới gốc đa của buổi tối ngày nào.

Thất bại ở Long Xuyên làm chúng tôi cạn kiệt hoàn toàn về vốn liếng, công việc kinh doanh cà phê ở Buôn Ma Thuột cũng gặp nhiều bế tắc, chỉ cầm cự từng ngày. Vốn liếng đâu để tiếp tục duy trì công việc kinh doanh? Lúc đó, chúng tôi có một người bạn thân đã đi làm và dành dụm mua được một chiếc xe Dream. Thời điểm đó chiếc xe là cả một tài sản lớn của anh. Vậy mà chúng tôi dám ngỏ ý mượn xe đem bán làm vốn kinh doanh. Chúng tôi đặt vấn đề: cho mượn thì coi như đã mất và nếu thành công thì chúng tôi trả lại. Người bạn đồng ý.

Bây giờ tôi có thể đủ sức mua cả ngàn chiếc xe Dream nhưng vẫn không có chiếc xe nào quí giá bằng chiếc xe tình bạn của chúng tôi ngày đó. Có tình bạn vô giá đó tôi mới có được ngày hôm nay.

Từ một quán cà phê miễn phí

Tại thời điểm chúng tôi bắt đầu thăm dò thị trường Sài Gòn, mỗi hãng cà phê đều tài trợ cho một quán kha khá khoảng 5 triệu đồng/tháng – quá hớp đối với tài sản chúng tôi đang có chỉ là chiếc xe máy. Chúng tôi đi tìm những điểm bán cà phê nổi tiếng để học hỏi, tìm hiểu bí quyết chế biến rang xay cà phê ngon và được họ “trải lòng” rất đơn giản – bí quyết chỉ có mấy chữ: 10 triệu đồng.

Ngày 20/8/1998 đi vào lịch sử của cà phê Trung Nguyên khi chúng tôi khai trương quán cà phê đầu tiên tại 587 Nguyễn Kiệm (quận Phú Nhuận) với hình thức phục vụ uống cà phê miễn phí trong vòng 10 ngày. Và đó là cú đột phá lịch sử với dân khoái uống cà phê Sài Gòn khi lần đầu tiên có một quán cà phê miễn phí. Có một ông khách khoảng 60 tuổi đến uống và nói với tôi: “Tui uống cà phê ở Sài Gòn đến từng này tuổi nhưng đây là lần đầu tiên được uống cà phê không phải trả tiền”.

Quán đông nghịt suốt ngày đêm vì người ta truyền miệng nhau. Chúng tôi và mấy người bạn phục vụ suốt ngày đêm đến nỗi nói không ra tiếng mà trong lòng thì vui không thể tả. Chúng tôi đã định hình Trung Nguyên là quán cà phê mà khách hàng có thể mua hàng, uống cà phê đối chứng bằng cách đưa ra rất nhiều loại cà phê để khách chọn lựa và hướng dẫn cách thưởng thức cà phê “theo kiểu Trung Nguyên”.

Điều khác biệt nhất của Trung Nguyên đối với tất cả các quán cà phê tại thời điểm đó là chúng tôi giúp cho khách hàng thấy được “chất” của cà phê, thấy được sự khác biệt đặc trưng giữa cà phê Robusta và Arabica, giữa Culi Robusta và cà phê Sẻ, cà phê Chồn…

Quán cà phê này vẫn duy trì hoạt động ở địa điểm cũ nhưng chắc ít ai biết chính từ quán cà phê đầu tiên này chúng tôi đã phát triển lên đến con số 500 quán cà phê tại Việt Nam như hiện nay và tiếp tục mở những quán cà phê Trung Nguyên khác tại nước ngoài.

Tặng cà phê cho Thủ tướng!

Khi còn đi vay cà phê để rang, chúng tôi đã dám bỏ tiền ra đăng ký tham gia một hội chợ ở Nha Trang. Bao nhiêu tiền lời chúng tôi làm ăn được đều dồn hết cho cú tiếp thị đầu đời này. Hễ có cơ hội là chúng tôi tìm cách giới thiệu cà phê của mình. Năm 1995, nghe tin Thủ tướng Võ Văn Kiệt về thăm và làm việc với tỉnh Đắc Lắc, tôi nghĩ ngay: phải giới thiệu cho được cà phê Trung Nguyên của mình với Thủ tướng.

Nhưng tiếp cận thủ tướng để tặng một bịch cà phê là điều không tưởng. Lần nào mon men tiếp cận cũng bị bật ra. Không bỏ cuộc, tôi chuyển sang… tặng những gói cà phê này cho các anh cảnh vệ, với lời nhắn là “quà của nhóm sinh viên Đại học Tây Nguyên kính tặng Thủ tướng”. Sau này có dịp ngồi tiếp chuyện bác Sáu Dân (nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt), tôi nhắc lại kỷ niệm đó và hỏi là bác có nhận được quà không, ông chỉ cười…

Trung Nguyên còn có thể mở rộng diện ra hơn nữa nhưng lúc này chúng tôi sẽ tập trung vào việc kiểm soát và nâng cao chất lượng sản phẩm. Mặc dù nhượng quyền nhưng mục tiêu của Trung Nguyên vẫn là khẳng định tính đồng nhất: mỗi ly cà phê Trung Nguyên dù bạn thưởng thức tại Thành phố Hồ Chí Minh hay ở thị trấn sông nước Năm Căn hoặc trên phố núi Sa Pa đều có chất lượng, hương vị như nhau…”

(Tuấn Anh - Tổng hợp Gương Doanh Nhân Việt Nam – Trung Nguyen Coffee)

Người giàu nhất Việt Nam Đoàn Nguyên Đức: Không đam mê cờ bạc, gái trai

“Cuộc đời có lắm nỗi đam mê, cám dỗ tầm thường nếu mình không giữ, không tránh được thì chết. Triết lý của đạo Phật cũng đã chỉ ra cho chúng ta, con người khổ là vì lòng tham, sân si… lòng tham vô đáy sẽ tự đánh mất mình và làm khổ mình.”

Vươn lên từ nghèo khó

Cậu bé Đoàn Nguyên Đức sinh năm 1962 (năm Nhâm Dần) từ vùng quê Nhơn Mỹ, An Nhơn, Bình Định nghèo lắm! Một thời chiến tranh, đạn bom quân thù cày xới trên quê hương thật dữ dội. Năm 1965 cả gia đình cha mẹ di cư lên An Phú, Pleiku, Gia Lai sinh sống. Lúc ấy cậu bé Đức mới lên 3 tuổi. Nhớ về kỷ niệm một thời lam lũ ở quê nghèo, Ba Đức nói: “Nhà nghèo nên đời mình từ khi nhỏ cái gì khổ cũng kinh qua hết”. Gia đình rời quê Bình Định chuyển lên Tây Nguyên cũng làm ruộng, làm thuê nên Ba Đức càng thêm vất vả. Là con trai thứ 3 trong gia đình, một phần lo miếng cơm, manh áo, phần lo gánh gồng gần 10 đứa em lít nhít. Khi mới lên tám tuổi nhưng sáng phải nhịn đói đi chăn bò. Lũ trẻ chăn bò thường chọc Đức là “beo”, vì nhỏ con đen óm. “Hồi ấy nghèo khổ, nhưng mình mê đánh banh lắm!” – Ba Đức kể.

Có lẽ sớm ý thức được chuyện phải thay đổi cuộc đời làm nông nghèo khổ như cha mẹ mình nên ngay từ nhỏ Ba Đức đã cố gắng học tập. Như bao chàng trai thời đó, Đoàn Nguyên Đức mong muốn thi đỗ đại học cho con đường khởi nghiệp và phải đến lần thứ 3 “dùi mài kinh sử” mới đậu. Nhưng rồi “tính khí bất thường” đã khiến sau một năm học ở Đại học Nông Lâm, Ba Đức bỏ đi làm thợ cưa thuê cho một số chủ gỗ, sau đó biết nghề lại quay về nhà mở một xưởng mộc nho nhỏ ở quê chuyên đóng bàn ghế cho học sinh. Một dịp nọ khoảng năm 1991, tình cờ Ba Đức gặp một chuyên gia người Đài Loan đi tìm hiểu thị trường đầu tư kinh doanh mặt hàng gỗ ở Gia Lai và ông ta muốn hợp tác đầu tư liên doanh. Bên người khách Đài Loan cung cấp máy móc, thiết bị và hướng dẫn kỹ thuật, còn Ba Đức chịu phần sản phẩm gỗ, quản lý lao động sản xuất. Năm 1992, Xí nghiệp tư doanh Hoàng Anh Pleiku ra đời với hoạt động kinh doanh chế biến xuất khẩu các sản phẩm từ gỗ. Sau bốn năm hợp tác làm ăn với chuyên gia Đài Loan, Ba Đức đã “Thối” lại hết nợ và toàn quyền quản lý khối tài sản máy móc thiết bị nhà máy. Lấy đà đi lên từ đó, Ba Đức mở rộng thị trường tiêu thụ thông qua việc tham gia các hội chợ trưng bày, giới thiệu sản phẩm ở nước ngoài. Năm 1995, sản phẩm gỗ của Hoàng Anh Pleiku được xuất khẩu sang nhiều nước lớn trên thế giới như Anh, Mỹ, Úc, Đức, Pháp…

Giai đoạn năm 1997, trong bước đà đang tăng trưởng đi lên thì Hoàng Anh Pleiku cũng gặp khó khăn chung là Chính phủ cấm xuất khẩu các mặt hàng gỗ, khiến nhiều doanh nghiệp sản xuất kinh doanh gỗ lao đao. Trong lúc khó khăn ấy nhiều doanh nghiệp sản xuất kinh doanh gỗ xuất khẩu chuyển nghề nhưng Hoàng Anh Pleiku vẫn duy trì hoạt động của mình nhờ làm chủ được thị trường trong nước. Đúng một năm sau, Chính phủ cho phép xuất khẩu mặt hàng gỗ trở lại, Hoàng Anh Pleiku có điều kiện thuận lợi tung mạnh sản phẩm ra thị trường nước ngoài và giữ uy tín lớn đến bây giờ. Cũng với hoạt động kinh doanh chế biến xuất khẩu gỗ, bắt đầu từ những năm 2000, Hoàng Anh Pleiku mở rộng hoạt động kinh doanh như sản xuất đá granit, chế biến mủ cao su, sản xuất bao bì, đầu tư kinh doanh dịch vụ khách sạn, khu du lịch nghỉ dưỡng, bất động sản… và chuyển thành Công ty cổ phần Hoàng Anh Gia Lai. Thương hiệu Hoàng Anh Gia Lai bắt đầu từ đây trải dài trên cả nước và đang mở rộng ra nhiều nước trên thế giới. Điều mà Hoàng Anh Gia Lai lợi thế cạnh tranh là tận dụng được ưu thế tác động hỗ trợ giữa các lĩnh vực sản xuất kinh doanh với nhau. Hoàng Anh Gia Lai đã đạt được giải thưởng Sao Đỏ năm 1999, hàng Việt Nam chất lượng cao 2003, Sao Vàng Đất Việt 2004… Đặc biệt, năm 2001, Ba Đức quyết định đầu tư cho bóng đá với ý nguyện để xây dựng một “thương hiệu” Gia Lai trong tầm nhìn quốc tế. Ba Đức kể: “Có lần tôi đi công tác ở các nơi, có người hỏi Pleiku, Gia Lai có điện không, hay chỉ có rừng, rẫy…?”. Thật khó chịu với những câu hỏi ấy, nhưng sau hai năm đội bóng Hoàng Anh Gia Lai đạt đỉnh vinh quang các giải trong nước, nhiều người càng hiểu hơn về Gia Lai và điều ấy cũng đã giúp cho thương hiệu Hoàng Anh Gia Lai trong hoạt động kinh doanh.

Năm 2008 là thời điểm gặp khá nhiều khó khăn của Hoàng Anh Gia Lai do thị trường chung đi xuống, đặc biệt là bất động sản, trong khi đó, Tập đoàn phải tập trung vốn để đầu tư vào các lĩnh vực dài hạn. Để vượt qua cái khó, Tập đoàn đã làm một cuộc “đại cách mạng” về giá nhà đất để vực dậy thị trường. Đó là việc hạ mức giá căn hộ Hoàng Anh Riverside (quận 2, TP Hồ Chí Minh) từ 2.500 USD/m2 xuống còn 1.100 USD/m2, nhưng vẫn đạt mức tăng trưởng lợi nhuận 50%… Theo báo cáo kết quả tình hình kinh doanh tài chính năm 2009, lợi nhuận của Hoàng Anh Gia Lai trên 1.700 tỷ đồng. Không chỉ trong nước, Hoàng Anh Gia Lai cũng tài trợ và thi công Làng vận động viên SEA Games 2009 và hướng nhiều hoạt động khá “màu mỡ” ra các nước bạn trong khu vực Đông Nam Á…

Nỗi khổ người giàu

Năm nay Đoàn Nguyên Đức đang ở tuổi 48, nhưng nhìn người anh già dặn hơn tuổi khá nhiều. Người nhỏ nhắn, ốm chắc và lạnh le chứ không bệ vệ như các giám đốc, đại gia chúng ta thường gặp. Có điều lạ, Ba Đức đi nhiều, giao du nhiều nhưng đặc biệt rất ít ăn nhậu và uống bia rượu. Hình như Ba Đức không có thời gian dành cho quán xá. Với mức lợi nhuận đạt hàng năm khá cao, bất chấp ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế thế giới, Đoàn Nguyên Đức là một trong những người giàu nhất thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2009, với giá trị số cổ phiếu mà ông đang nắm giữ ở mức 11.500 tỷ đồng. Thế nhưng gặp anh Ba Đức lúc nào cũng có vẻ như khổ sở lắm, luôn gắn mình trong phong cách của chiếc quần jean, áo sơmi, giày thể thao… Biết tính Ba Đức nên khi được gặp tôi cũng hay “kích”, anh Ba là đại gia mà sao khổ thế. Rồi tôi chỉ những chuyện đại gia làm không giống người khác như câu chuyện mua chiếc máy bay cá nhân đầu tiên tại Việt Nam năm 2008 (chiếc Beechcraft King Air 350), trị giá 7 triệu USD, mỗi tháng anh dành 300 triệu đồng giao Công ty Bay dịch vụ hàng không (VASCO) lo trọn gói; xây dựng Học viện bóng đá và có lúc đòi mua cả câu lạc bộ Arsenal… Ba Đức cười và bảo anh Ba làm cái gì cũng tính đến chín mười bước chứ không phải một hai bước, tuy nhiên không phải lúc nào sự mạnh mẽ, táo bạo cũng được ủng hộ, sự tiên phong ấy đôi lúc nhận được nhiều lời chỉ trích hơn là hưởng ứng, thậm chí kèm theo đó là hàng loạt những thị phi. Nhưng thực tế nếu không có quyết định táo bạo thì khó thành việc lớn. Tuy nhiên, chiến lược của Hoàng Anh Gia Lai những năm tới tập trung vào 4 ngành mũi nhọn là: bất động sản, khoáng sản, cây công nghiệp và thuỷ điện. Ngay ngày mùng 6 đầu năm anh đã họp kín cả ngày và triển khai nhanh những kế hoạch trong nước và điều quân đi nước ngoài…

Với Đoàn Nguyên Đức, được thua hay danh vị không phải là mục tiêu cuối cùng. Con người anh bôn ba thương trường nhiều năm, thành công có, thất bại không phải ít, nên Ba Đức nghiệm ra nhiều thứ, đặc biệt là chuyện giàu có như anh không hề sướng chút nào. Có lần gặp Ba Đức tôi hỏi, đại gia như anh thì sướng lắm, thiếu gì tiền mà vất vả? Ba Đức cười và bảo: “ Càng là đại gia càng khổ, không có nhiều thời gian để nghỉ ngơi và hưởng thụ mà phần lớn dồn sức vào công việc”. Phần lớn buổi tối nào cũng 8 – 9h đêm Ba Đức mới ngồi vào bàn ăn. Đi công tác cũng khá bất chợt, đột xuất, không khi nào rảnh đôi chân thoăn thoắt của mình. Nếu tính bình quân, mỗi ngày đi kiểm tra một cơ sở kinh doanh thì Ba Đức phải đi hơn cả tháng trời vẫn không đều khắp trong và ngoài nước. Vậy anh quản lý bằng cách nào cho đảm bảo hoạt động kinh doanh thông suốt? Ba Đức trả lời nhanh: “Mỗi nơi tôi đều có cán bộ quản lý tốt nên không cần thị dát tận nơi mà điều hành từ xa là ổn. Hàng tháng, hàng quý mà phát hiện các cơ sở kinh doanh không hiệu quả thì người đứng đầu phải nhận lương thấp, thậm chí sẽ chuyển đổi công tác ngay…”. Ba Đức bảo: “Lợi nhuận của công ty gắn liền với quyền lợi của anh em nên không ai ỷ lại, làm lấy lệ cho xong chuyện mà đều nhiệt tình và sáng tạo. Tôi luôn sòng phẳng với anh em, luôn để lợi ích chung và riêng gắn bó chặt chẽ với nhau”. Người làm việc cho Ba Đức không sợ không công bằng, chỉ sợ anh không giỏi, năng lực yếu kém không trụ được với thời buổi kinh doanh hiện đại này. Vì cơ chế rõ ràng, sòng phẳng và ưu ái cho người làm tốt nên phần lớn những người “đầu quân” cho Ba Đức đều nhiệt tình và giỏi. Đã giỏi, làm tốt thì Ba Đức gắn nhanh cho quyền lợi nhất định. Ngoài lương, thưởng hàng tháng còn có cả những chiếc phong bì riêng, được tạo điều kiện mượn vốn mua ôtô, xây nhà… vì thế nên Ba Đức luôn giữ chân được những người tài giúp mình.

Ba Đức luôn tâm niệm, Hoàng Anh Gia Lai “phất” lên và giữ được “phong độ” trong cơ chế kinh doanh mới là nhờ biết dùng và trọng dụng những người tài. “Vậy có người cho rằng, giàu có bây giờ là nhờ buôn gian, bán lận, Ba Đức nghĩ sao?”. Nghe câu hỏi của tôi, Ba Đức cười và bảo: “Bây giờ cuộc sống xã hội, dân trí ngày càng cao, pháp luật cái gì cũng rõ như ban ngày không giấu đút, che đậy được đâu, làm ăn gian lận thì giàu nhanh nhưng chết cũng nhanh”. Vì vậy nên Ba Đức luôn nghĩ rằng, khó lắm mới gây dựng được cơ đồ như hôm nay, đã thành danh rồi thì dại gì đánh đổ nó đi mà làm bậy. Trong cuộc sống kinh doanh, tranh giành thị trường chỉ cần sơ xuất một chút là dễ gặp tai hoạ. Ba Đức đã từng gặp chuyện ấy, từng đau khổ vì chuyện cạnh tranh không lành mạnh ấy thấm thía lắm.

Bên chuyện kinh doanh, bóng đá là thứ mà Ba Đức mê nó như lẽ sống riêng của tâm hồn mình. Nhưng cũng quanh chuyện bóng đá, có lẽ Ba Đức cũng không giấu được lỗi buồn. Câu chuyện bầu Đức bị đề nghị khởi tố có lẽ mãi là một câu chuyện, một bài học mà cả đời Ba Đức thấm thía, đau đớn. Nhớ chuyện hôm ấy cả phố núi, rồi cả trong và ngoài nước râm ran không ngớt chuyện bầu Đức bị đề nghị khởi tố. Hàng chục ngàn công nhân của Hoàng Anh Gia Lai cũng bất ngờ và mất ăn, mất ngủ. Trong mỗi cuộc chơi bao giờ cũng có sự trả giá, cái gì quá trớn cũng sẽ ân hận. Ba Đức tâm niệm rằng kinh doanh phải biết tính lời, lỗ, nhưng đạo đức kinh doanh sẽ giúp anh đi dài và xa hơn. Thương hiệu Hoàng Anh Gia Lai đang vang xa cả thế giới hôm nay không phải ngẫu nhiên mà phải nói là trải qua một quá trình xây dựng từng “viên gạch” một.

Tôi hỏi Ba Đức, người ta thường nghĩ rằng là đại gia phải biết ăn chơi và có sự đam mê những điều xưa nay thiên hạ hay nhắc đến với người giàu có như cờ bạc, trai gái…? Ba Đức cười bảo: “Trời cho tôi cái tính không đam mê những thứ ấy, nếu có chắc chết lâu rồi” (cười). Cuộc đời có lắm nỗi đam mê, cám dỗ tầm thường nếu mình không giữ, không tránh được thì chết. Triết lý của đạo Phật cũng đã chỉ ra cho chúng ta, con người khổ là vì lòng tham, sân si… lòng tham vô đáy sẽ tự đánh mất mình và làm khổ mình.
Ba Đức quan niệm, làm doanh nghiệp không chỉ đóng góp cho quốc gia bằng nguồn nộp thuế mà phải làm rạng danh cho quốc gia, dân tộc bằng cả thương hiệu, sự uy tín và lớn mạnh của mình… Quốc gia có nhiều doanh nghiệp, doanh nhân làm ra của cải vật chất nổi tiếng thì quốc gia ấy sẽ trở nên cường thịnh, giàu có và lớn mạnh. Hy vọng rằng, đất nước Việt Nam chúng ta ngày càng có nhiều doanh nhân, doanh nghiệp làm nên sự nghiệp lớn bằng trái tim và khối óc chân chính của mình để giúp ích cho quê hương, đất nước.

Theo Công an nhân dân

Từ thợ sửa xe tới CEO Công ty Trường Hải Trần Bá Dương

Ông Trần Bá Dương, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty cổ phần ô tô Trường Hải:

“Tôi xuất thân là một kỹ sư cơ khí. Tôi là con người của kỹ thuật. Tôi không là dân tài chính.

Tôi không quen tư duy phát triển doanh nghiệp mình quy mô thế nào, quản trị ra sao… Chỉ biết làm để có kết quả tốt nhất.

Tôi cũng không có ý định mua lại công ty này, doanh nghiệp kia để mở rộng. Có muốn cũng chẳng được! Chuyện khó ấy, dành cho các tập đoàn đa quốc gia.

Tôi mở rộng phương án kinh doanh để Trường Hải có thể phát triển. Để giải quyết được nhiều việc làm hơn…”

Ông vô tình trở thành thần tượng của nhiều sinh viên trường Bách Khoa vì câu chuyện lập nên ô tô Trường Hải từ hai bàn tay trắng.

Ông Trần Bá Dương đã xây dựng Thaco Trường Hải từ hai ban tay trắng.

- Chuyện anh kỹ sư, thợ sửa chữa xe Trần Bá Dương từ hai bàn tay trắng lập nên Trường Hải đã đi vào các trường đại học. Nhưng mọi người vẫn biết rất ít về thất bại của ông khi xây dựng Trường Hải?

- Thật ra thành công hay thất bại của Trường Hải cũng là thành công, thất bại của chính tôi. Doanh nghiệp là hình ảnh của chính doanh nhân.

Tôi cho rằng, khó khăn chính là những cột mốc để công ty phát triển lên tầm cao mới. Cá nhân tôi, khó khăn nhất chính là việc phải đấu tranh giữa quan điểm gia đình và bản thân. Trước thì không nhưng bây giờ, gia đình hay phản đối và bảo tôi: “Có đủ để dùng rồi, ông còn làm nhiều thế làm gì, sức khỏe đâu mà chịu cho nổi…”.

Ông Trần Bá Dương, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty cổ phần ô tô Trường Hải:

“Tôi xuất thân là một kỹ sư cơ khí. Tôi là con người của kỹ thuật. Tôi không là dân tài chính.

Tôi không quen tư duy phát triển doanh nghiệp mình quy mô thế nào, quản trị ra sao… Chỉ biết làm để có kết quả tốt nhất.

Tôi cũng không có ý định mua lại công ty này, doanh nghiệp kia để mở rộng. Có muốn cũng chẳng được! Chuyện khó ấy, dành cho các tập đoàn đa quốc gia.

Tôi mở rộng phương án kinh doanh để Trường Hải có thể phát triển. Để giải quyết được nhiều việc làm hơn…”

- Có vẻ như việc kinh doanh hay không, gây mất thời gian suy tư cho ông nhiều quá?

- Nghĩ đơn giản, kinh doanh là kiếm tiền thì đúng là không có động lực. Nhưng nếu nói là làm để phục vụ xã hội thì lại quá mênh mông, to tát. Tôi phải chọn mục tiêu ở mức vừa đủ thể hiện vai trò và tính phục vụ của mình với cuộc sống này.

Nhiều lúc tôi tự hỏi, mục tiêu của mình là gì? Làm sao để chia sẻ mục tiêu đó với cộng sự, gia đình? Chuyện tưởng đơn giản nhưng thực chất là rất khó.

Hiện nay, môi trường xã hội có rất nhiều mô hình kinh doanh đôi lúc mang tính thời thượng như chứng khoán, bất động sản… , từng một thời kiếm tiền rất dễ. Những người trong ngành này đi xe xịn, làm việc phòng máy lạnh, có thời gian nhàn rỗi chơi golf…

Trong khi đó, những người làm sản xuất, ví dụ như sản xuất xe như tôi thì trầy trật với bao nhiêu là phép tính nào lãi suất, nào nhân công. Người thì lúc nào cũng lấm lem dầu nhớt… Có lần, tôi bị người trong nhà nói mình dại. Tôi có thể mua vài ba miếng đất rồi thong thả đi chơi, hưởng nhàn. Mọi người nói tôi xây dựng nhà máy tại Chu Lai, quản lý 7.000 con người làm gì cho mất công, mà nguồn thu về chẳng bằng giá đất lên.

- Vừa đối mặt với khó khăn, vừa chịu áp lực từ gia đình, làm thế nào ông có niềm tin mà tiếp tục công việc?

- Cuộc sống buộc con người phải thích nghi với môi trường sống, kinh tế buộc doanh nghiệp phải thích nghi với môi trường phát triển, sản xuất kinh doanh. Đồng thời, phải tin rằng, trong khó khăn thì luôn có cách để tồn tại và phát triển. Có niềm tin như thế thì trước mắt doanh nghiệp đã thắng về mặt nghị lực. Từ nghị lực sẽ biến thành nội lực.

Trong khó khăn, tôi không vẽ ra mục tiêu quá lớn để bị ngộp với chính mình mà đặt ra mục tiêu đơn giản, chỉ cần Trường Hải cạnh tranh được trong môi trường hội nhập quốc tế. Mục tiêu nhỏ nhưng bước tiến dài, vững chãi mới mong có phát triển bền vững!

- Trường Hải của ông “mở hàng” trong việc nhập xe ô tô cũ và chiếm lĩnh 50% thị trường. Ông cũng là người kiên quyết dồn tài lực, công sức đầu tư nhà máy tại khu kinh tế mở Chu Lai, chính thức sản xuất ô tô tại Việt Nam. Chính ông là người đầu tư, sản xuất dòng xe giường nằm phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng nội địa và thay đổi “văn hóa xe đò”… Việc làm người tiên phong, mở cõi có khiến ông tự hào?

- Việt Nam là một nước đi sau các nước về công nghiệp. Tôi vẫn nghĩ rằng, mình phải liên tục học từng chút một những tiến bộ của nước ngoài. Cách học tốt nhất là đồng hành, sát cánh cùng họ. Thế nên, tôi chọn cách hợp tác với các thương hiệu mạnh như Huyndai và KIA…

Chính phủ đang mong mỏi có một ngành công nghiệp ô tô tại Việt Nam. Trước đây, chúng ta có những nhận định không chính xác về ngành công nghiệp ô tô tại Việt Nam. Gần đây, Trường Hải cũng đã nói và đã làm cho xã hội biết rằng Việt Nam có thể sản xuất, lắp ráp ô tô theo hướng tham gia chuỗi giá trị, hướng đến thị trường AFTA khu vực ASEAN.

- Để tham gia được thị trường này, doanh nghiệp phải gia tăng tỷ lệ nội địa hóa lên đến 40%. Con số này có vẻ không đơn giản với một doanh nghiệp sản xuất ô tô, xe máy?

- Điều này buộc tôi phải đầu tư và liên kết với nhiều doanh nghiệp khác trong và ngoài nước để nâng cấp các dây chuyền công nghệ, thiết bị phục vụ sản xuất cũng như nghiên cứu, sáng chế, thay đổi nhiều công đoạn sản xuất của nước ngoài cho phù hợp với Việt Nam.

Tăng tỷ lệ nội địa hóa nghĩa là góp phần giảm được nhập siêu. Trong con số 40% ấy, còn có cả vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động. Và hơn hết, khi xuất khẩu được sang thị trường AFTA, chúng ta còn thu về ngoại tệ, góp phần cân bằng cán cân thương mại giữa Việt Nam với các nước. Những lợi ích lâu dài như thế khiến tôi thấy mình cần nỗ lực hơn.

- Tại sao ông chọn xây dựng Nhà máy động cơ THACO – Hyundai tại Khu Kinh tế mở Chu Lai – Quảng Nam chứ không phải Hà Nội hay TP HCM?

- Nó liên quan đến vấn đề chiến lược. Thực ra, đất nước chúng ta đang trong lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế. Tham vọng của tôi là Trường Hải không chỉ là doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam mà phải hàng đầu Asean.

Mô hình của Trường Hải đến năm 2018, thời gian hoàn tất quy trình hội nhập ASEAN, là phải có được một khu công nghiệp tập trung của riêng mình. Chỉ có tập trung mới giảm thiểu được đầu tư hạ tầng công nghệ dàn trải, giảm chi phí vận chuyển… Do đó, Chu Lai là một địa điểm thích hợp. Trong ước mơ của tôi, mô hình Chu Lai khi thành công sẽ là nơi tập trung sản xuất tất cả máy móc, phát triển ngành nghề liên quan đến lĩnh vực ô tô, cơ khí…

- Ông đánh giá sao về việc tự nhận diện lại bản thân doanh nghiệp?

- “Biết người” được đặt ngang hàng với “biết ta”. Doanh nghiệp nhận diện lại để thấy được vai trò của mình trong thời đại mới. Ở chiều ngược lại, tôi kỳ vọng xã hội sẽ nhận diện được lực lượng doanh nghiệp, vai trò doanh nghiệp… trong sự phát triển của kinh tế hiện nay.

- Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện này!

Theo DNSG

CEO Kinh Đô: ‘Cuộc sống phải luôn có tham vọng’


Phó chủ tịch HĐQT, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Kinh Đô Trần Lệ Nguyên. Ảnh: N.L.

Từ một người làm thuê trở thành lãnh đạo công ty thực phẩm hàng đầu Việt Nam, Trần Lệ Nguyên – Tổng giám đốc Kinh Đô luôn tâm niệm phải luôn có tham vọng mới đạt được những hoài bão lớn.
> ‘Nên mở rộng bảng xếp hạng người giàu trên sàn chứng khoán’

Những năm 90, Trần Lệ Nguyên chỉ là một thanh niên làm việc ở xí nghiệp chế biến thực phẩm quận I (TP HCM). Nhìn bánh kẹo từ Thái Lan và các nước khu vực tràn ngập thị trường nội địa, giá lại đắt đỏ so với túi tiền người tiêu dùng, trong anh trỗi dậy ham muốn phát triển sự nghiệp ở ngành thực phẩm.

Trần Lệ Nguyên trăn trở: “Vì sao họ làm được, còn mình lại không, trong khi mình có lợi thế sân nhà, thuận lợi trong nắm bắt thị hiếu, tâm lý khách hàng hơn?”. Và anh đã thuyết phục được anh trai là Trần Kim Thành (hiện là Chủ tịch HĐQT KDC) cùng nhau dựng nghiệp riêng.

Quyết tâm, đam mê nhưng vốn lại quá ít ỏi, hai anh em phải thế chấp toàn bộ nhà cửa để vay ngân hàng, cộng với vay thêm bà con để nhập máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất. “Đó là một trong những quyết định liều lĩnh nhất đời tôi. Nếu thất bại thì cả 2 anh em sẽ nợ nần chồng chất, không biết bao giờ mới trả hết”, vị Tổng giám đốc của Kinh Đô nhớ lại.

Trước khi khởi nghiệp, Trần Lệ Nguyên từng có nhiều năm học làm bánh thời trung học và 5 năm tại xí nghiệp chế biến thực phẩm. Thế nhưng, chàng thanh niên mới ngoài 20 tuổi phải đối mặt với nhiều thách thức mới khi khởi nghiệp.

“Những ngày đầu vận hành máy, bánh làm ra không đạt tiêu chuẩn. Tôi rất lo lắng. Từ sáng tới khuya, tôi tập trung nghiên cứu, rút kinh nghiệm dần qua từng mẻ bánh, quyết không đưa sản phẩm không đủ chất lượng ra thị trường”, người điều hành Kinh Đô nhớ lại. Sau khoảng 30 ngày vận hành, những sản phẩm đầu tiên mới chính thức có mặt trên thị trường.

Nhờ giá rẻ, khẩu vị gần gũi với người Việt, sản phẩm của Kinh Đô nhanh chóng được người tiêu dùng chấp nhận. Thời điểm đó, khẩu hiệu hàng Việt Nam chất lượng cao tuyên truyền rộng rãi càng tiếp sức cho sản phẩm của Kinh Đô tung hoành ở các hội chợ tại các tỉnh thành lớn của cả nước. “Lúc đó, mọi khổ cực kể từ lúc thành lập công ty, nỗi thất vọng với những sản phẩm đầu tay không ưng ý tan biến hết. Lợi nhuận mấy năm đầu đều tăng mấy trăm phần trăm”, ông Nguyên cười tươi.

Chuyển từ một công ty gia đình sang một tập đoàn đa ngành, ông chủ của Kinh Đô không ôm đồm mà sẵn sàng giao việc cho cấp dưới. Thời gian rảnh rỗi, ông đi ra ngoài khám phá, tìm hương vị, mùi vị mới lạ, tìm kiếm trang thiết bị có tính năng ưu việt để bổ sung dây chuyền sản xuất cho công ty.

Đi bất kỳ đâu, ông cũng dừng lại ở các tiệm bánh, dùng thử, mua về hoặc tìm nguyên liệu ngay tại nước đó về nước giao cho nhân viên nghiên cứu hoặc tự mình khám phá ngay trong gian bếp của gia đình. Điều này đã trở thành sở thích nhiều năm nay của vị Tổng giám đốc Kinh Đô dù công ty đã có nhóm chuyên trách.

Chính nhờ thói quen thích tự mình trải nghiệm, khám phá, chỉ cần nếm qua một loại bánh, ông có thể biết được những nguyên liệu cấu thành bên trong. Đây là kinh nghiệm mà ông đúc kết được từ hàng chục năm gắn bó với ngành thực phẩm.


Ông tâm niệm trong cuộc sống phải có tham vọng, để biến những ước mơ thành hiện thực. Ảnh: N.L.

Hiện tại, điều làm ông băn khoăn là chưa tìm được người kế nghiệp trong việc nếm bánh, duyệt xem sản phẩm đó có đủ tiêu chuẩn để xuất xưởng hay không. “Điều này không có trường lớp nào dạy, mà cảm nhận của mỗi người cũng không giống nhau. Quan trọng nhất là nắm được khẩu vị, biết được cái nào người tiêu dùng thích”, CEO Trần Lệ Nguyên chia sẻ.

Với quan niệm nội lực mạnh, doanh nghiệp mới vững, ông luôn nhắc nhở nhân viên trong kinh doanh luôn có thách thức. Nay cạnh tranh với anh A, mai sẽ xuất hiện thêm anh B, anh C, nhưng nếu nội lực vững, hệ thống bộ máy chắc sẽ không sợ đối thủ nào. Càng hội nhập càng cạnh tranh, những tập đoàn nước ngoài cũng nhiều lần có ý định liên doanh, thâu tóm, mua lại trên 50% để nắm quyền kiểm soát KDC, song ông đều khước từ.

Theo ông chủ Kinh Đô, năm 2010 là một năm khó khăn với nhiều doanh nghiệp với tỷ giá và lãi suất cùng tăng mạnh, trong khi sức tiêu thụ giảm sút do khủng hoảng kinh tế. Cũng vì thế, doanh số của KDC đạt dự kiến nhưng tăng trưởng lợi nhuận chỉ dừng ở mức như kế hoạch, chứ không vượt chỉ tiêu đề ra như 2-3 năm về trước.

Tuy nhiên, năm 2010 cũng đánh dấu một cột mốc quan trọng của Kinh Đô với việc hợp nhất Công ty cổ phần thực phẩm Kinh Đô miền Bắc (NKD) và Kem Kido vào KDC. Sáp nhập hoàn tất, áp lực với ông Nguyên và ban điều hành cũng tăng lên rất nhiều bởi các cổ đông cũng kỳ vọng cao ở những kết quả tốt hơn trong năm 2011.

Đối với mặt với nhiều thách thức lớn khi 3 công ty hợp nhất, Tổng giám đốc Kinh Đô tâm sự: “Cuộc sống là phải luôn có tham vọng. Bạn phải có tham vọng thì mới đạt được những hoài bão của mình”. Theo ông, chỉ có sự say mê, nhiệt huyết, sáng tạo và đôi khi cũng cần phải liều lĩnh thì mới có thể biến những ước mơ (nhiều lúc táo bạo) thành hiện thực.

Một trong những giải pháp ông thường chọn để giải tỏa áp lực tâm lý sau những giờ làm việc căng thẳng là đánh golf cùng bạn bè, hát karaoke. Ngoài ra, một sở thích đặc biệt của ông là vào bếp, tự tay chế biến các món ăn đãi gia đình và bạn bè vào những ngày cuối tuần.

Ông Trần Lệ Nguyên sinh năm 1968, giữ chức Tổng giám đốc Kinh Đô từ năm 1992 đến nay, hiện là Phó chủ tịch HĐQT. Năm 2010, ông đứng vị trí 24 trong danh sách 100 người giàu trên sàn chứng khoán do VnExpress.net thống kê, tổng hợp, với giá trị tài sản bằng cổ phiếu là 754 tỷ đồng. Các mã cổ phiếu trên sàn mà ông sở hữu không chỉ có KDC mà còn có TRI, TLG.

Năm 1993 Công ty TNHH Kinh Đô ra đời, kế tiếp là Công ty Kinh Đô Miền Bắc. Từ công ty gia đình, Kinh Đô chuyển sang công ty đại chúng năm 2002 và niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán. Năm 2003, doanh nghiệp mua lại thương hiệu kem Wall của Unilever và đổi tên thành Kido’s, sau đó đầu tư vào Tribeco, Nutifood, Vinabico.

KDC còn mở rộng hoạt động sang lĩnh vực bất động sản với sản phẩm đầu tay là Hùng Vương Plaza. Trong chiến lược phát triển, doanh nghiệp hướng tới tập đoàn đa ngành gồm thực phẩm, địa ốc, tài chính và bán lẻ.

Bạch Hường ghi, Theo vnexpress.net

Chủ tịch thưởng Tết nhà 8 tỷ: ‘Cơ hội có trong khủng hoảng’

Chủ tịch tập đoàn C.T Group Trần Kim Chung chia sẻ trong năm 2011 ông tìm thấy nhiều cơ hội trong khủng hoảng. Ảnh: Nhân vật cung cấp

Gây sốc với khoản thưởng Tết cho nhân viên năm 2011 là căn nhà 8 tỷ đồng kèm 200 triệu đồng tiền mặt, Chủ tịch tập đoàn C.T Group Trần Kim Chung chia sẻ trong khó khăn, khủng hoảng ông tìm thấy không ít cơ hội.

- Bất ổn kinh tế trong năm 2011 khiến nhiều doanh nghiệp đối mặt với việc thiếu vốn, chi phí tăng, thu hẹp sản xuất, thua lỗ… Những thách thức ấy hưởng như thế nào đến C.T Group?

- Năm 2011, kinh tế trải qua nhiều khó khăn và chưa có tín hiệu tươi sáng hơn vào năm 2012. Nhiều chủ doanh nghiệp nói với tôi rằng không biết họ có thể chịu đựng được bao nhiêu ngày nữa. Sức chịu đựng của họ đang được tính theo ngày chứ không phải theo tháng hay năm nữa. Riêng C.T Group, nhờ có bề dày lịch sử hoạt động đa ngành trong 6 lĩnh vực và có 36 công ty thành viên tạo giá trị gia tăng cho nhau nên chúng tôi tương đối vững vàng sau hai đợt khủng hoảng vừa qua. Mặc dù tập đoàn vẫn bị ảnh hưởng và tổn thương nhưng so với các doanh nghiệp khác chúng tôi tương đối ổn định. Thậm chí trong những cơn khủng hoảng như thế này chúng tôi lại tìm thấy được cơ hội để mở rộng và lớn mạnh hơn.

- Những cơ hội nào ông đã tìm thấy?

- Trong giai đoạn khủng hoảng vừa qua, chúng tôi đã mua lại một số doanh nghiệp, tiến hành sáp nhập thuận lợi, kể cả mua lại một số dự án tốt. Đây là trường hợp đặc biệt, vì trong điều kiện bình thường rất khó có cơ hội tiếp cận những thương vụ này. Khi mua lại, chúng tôi đưa các giá trị cộng thêm về mặt thương hiệu, kinh nghiệm, dịch vụ và kết nối được với các ngành khác trong hệ thống của tập đoàn nên cơ hội thành công khá cao.

Ví dụ, khi thị trường bất động sản khủng hoảng, chúng tôi đã tìm thấy một số cơ hội nhất định. Chẳng hạn như khởi công xây dựng dự án trong giai đoạn này giá vật tư rẻ hơn so với những thời điểm khác. Lúc này nhân công luôn dồi dào và nhà thầu cũng rất cần chủ đầu tư nên việc hợp tác triển khai dự án thuận lợi hơn. Mặt khác, các dự án chúng tôi chọn phát triển đều có điểm chung là tọa lạc trong khu trung tâm nên lượng tiêu thụ tương đối ổn định.

Tuy đang gặp nhiều khó khăn nhưng về lâu dài tôi tin thị trường bất động sản vẫn còn đầy tiềm năng. Vì thế trong kế hoạch 5 năm, dự kiến chúng tôi sẽ có nhiều sản phẩm địa ốc chất lượng tốt chọn điểm rơi vào năm 2013. Chúng tôi tin rằng đây là thời điểm thị trường bình ổn trở lại.

- Nhiều doanh nghiệp tỏ ra bi quan trước dự báo kinh tế năm 2012. Riêng ông chuẩn bị đối mặt với thách thức mới như thế nào?

- Nếu cuộc khủng hoảng năm 2009 có thể qua đi nhanh vì chính sách Nhà nước điều chỉnh kịp thời thì lần này kéo dài rất lâu. Đây là hệ quả tích lũy lâu dài sự lãng phí nhiều lĩnh vực trong xã hội nên cần rất nhiều thời gian để khắc phục. Tôi cho rằng kỳ vọng nền kinh tế có chuyển biến lớn và thay đổi nhanh trong năm 2012 là quá sớm. Tuy nhiên, các động thái của Chính phủ về việc tái cơ cấu nền kinh tế cũng khiến doanh nghiệp có cơ sở tin tưởng vào tương lai.

Trong giai đoạn này chúng tôi vẫn tiếp tục mở rộng đầu tư vì đây là chiến lược phát triển lâu dài của tập đoàn. Mọi người có thể nhìn thấy C.T Group vẫn duy tốc độ phát triển ở khắp nơi để tiếp tục củng cố mô hình đa ngành của mình. Tất nhiên trong năm 2012 chúng tôi sẽ phải cân đối lại dòng tiền và nguồn vốn sao cho phù hợp hơn.

Với ông Chung, kinh nghiệm thất bại gần như phá sản hoàn toàn cách đây 24 năm đã giúp ông luôn thận trọng khi dưa ra mọi quyết định đầu tư. Ảnh: Nhân vật cung cấp

- Nếu hồi tưởng về khoảng thời gian sôi nổi chốn thương trường, dấu ấn nào khiến ông khó quên nhất?

- Khởi nghiệp từ năm 16 tuổi, tính đến nay tôi có gần 30 năm làm kinh doanh. Riêng tập đoàn C.T Group cũng gần 20 tuổi. Tôi đã chứng kiến nhiều thăng trầm trên thương trường và nhìn thấy không ít bài học đau xót của doanh nghiệp.

Trong quá trình kinh doanh, tôi cũng đã từng thất bại, phải “lên bờ xuống ruộng”. Bản thân tôi cũng đã có bài học cay đắng khó quên. Cách đây khoảng 24 năm, chúng tôi đã có một lần gần như phá sản hoàn toàn và phải trải qua thời kỳ vô cùng đen tối. Chính kinh nghiệm thất bại đó giúp chúng tôi về sau này luôn thận trọng với mọi việc.

Ngày đó tôi hãy còn là chàng thanh niên, khi vấp váp, thất bại, có thời điểm tôi rất bi quan. Tuy nhiên, nhờ bề dày giáo dục của gia đình nên tôi dần bình tĩnh trở lại. Tôi từng nghĩ, phá sản cũng chưa phải là việc xấu nhất mà mình phải đương đầu. Chính vì vậy, chúng tôi đã từng bước vượt qua các trở ngại lớn để tiếp tục đi con đường của mình.

- Trong đời sống ai cũng có tham vọng và ước mơ, thế còn ông?

- Ngày xưa khi thành lập công ty chúng tôi làm vì sự đam mê đồng thời vì tấm lòng đối với xã hội. Với tinh thần đó, chúng tôi gầy dựng C.T Group như ngày hôm nay. Tham vọng của tôi là tập đoàn sẽ tiếp tục phát triển không chỉ hàng chục mà là hàng trăm năm. Tôi muốn mình chỉ là người đặt viên đá đầu tiên cho Tập đoàn và sẽ còn nhiều thế hệ C.T Group nối tiếp nhau đưa thương hiệu này vươn ra thế giới.

Tôi có nhiều ước mơ. Thế nhưng, ước mơ thường trực nhất là mọi người có cuộc sống bình an, tốt đẹp hơn. Có lẽ vì vậy mà niềm vui của tôi luôn là những dịp cùng tập đoàn làm công tác xã hội. Năm ngoái chúng tôi đã có chuyến đi xuyên Việt của toàn thể cán bộ nhân viên trong tập đoàn đến các tỉnh thành và mang theo nhiều thuốc men, quà tặng giúp trẻ em nghèo. Những chuyến đi như thế luôn khiến tôi thấy ấm áp.

Vũ Lê, Theo vnexpress.net

Ông tổ gà rán KFC khởi nghiệp lại ở tuổi 60

Sau khi phá sản, ở độ tuổi lục tuần, ông tổ gà rán KFC đi dọc đất nước để tìm kiếm sự hợp tác. Bị từ chối 1.009 lần nhưng Harland Sanders chưa bao giờ nản chí. Đam mê đã giúp ông tiếp tục dấn bước ngay cả khi thất bại.

Nhiều người nghĩ rằng họ cần đợi cho đến khi có đủ vốn, đủ lực rồi mới bắt đầu khởi nghiệp, nhưng Sanders thì khác. Không nhiều tiền, không có văn phòng và bất kỳ nhân viên nào ngoài người vợ thân yêu, ông vẫn theo đuổi niềm đam mê của mình. Và cuối cùng, ông đã thành công. Kinh nghiệm của Sanders đã mang lại một bài học quý giá, đó là, những gì bạn có không bao giờ là quá ít để bắt đầu.

Không sinh ra trong một gia đình giàu có, Harland Sander mồ côi cha năm 6 tuổi. Năm 1896, thân phụ của ông Harland qua đời nên người mẹ phải lao động để trang trải cho gia đình. Vào cái tuổi lên 6, cậu bé Harland đã phải lo lắng việc chăm sóc cho các em nhỏ của mình và làm rất nhiều công việc bếp núc. Một năm sau đó cậu đã thành thạo một vài món ăn địa phương. Trong suốt 30 năm sau, Sanders đã trải qua rất nhiều công việc khác nhau, từ người điều khiển giao thông đến nhân viên đại lý bảo hiểm, nhưng trong suốt thời gian này, trình độ nấu ăn của ông vẫn không hề thay đổi.

Ông tổ thương hiệu gà rán KFC – Harland Sanders.
Vào thập niên 30, Sanders khởi đầu sự nghiệp bằng việc chế biến gà rán phục vụ cho hành khách dừng chân ở trạm xăng nơi ông đang làm việc tại Corbin, bang Kentucky. Vì lúc ấy ông chưa có nhà hàng nên những vị khách phải ăn trên những chiếc bàn đặt tại trạm xăng của khu phố nhỏ bé. Sau đó ông lại tạo ra một món ăn gọi là “món thay thế bữa ăn ở nhà” để bán cho những gia đình bận rộn. Ông gọi nó là “Buổi ăn tối ngày chủ nhật, bảy ngày trong một tuần”.

Tuy nhiên, đến năm 1950, một dự án về đường cao tốc liên bang và sự xuống dốc của nền kinh tế buộc Sanders phải bán lại cơ nghiệp ở Corbin, tiểu bang Kentucky, với số tiền chỉ vừa đủ để đóng thuế. Tự tin vào hương vị món ăn của mình nên tuy đã vào tuổi 60, với 105 USD tiền trợ cấp xã hội nhận được, ông vẫn lên đường bán những gói gia vị và cách chế biến gà rán đồng nhất cho những chủ nhà hàng nằm độc lập trên toàn nước Mỹ.

Trong chuyến đi dọc đất nước, Sanders đã bị từ chối 1.009 lần. Ban đầu, chỉ một số ít ông chủ nhà hàng thấy họ có lợi nếu mua công thức mà Sanders đang bán. Dave Thomas, sau này là người lập ra Wendy – chuỗi cửa hàng đồ ăn nhanh chuyên về bánh hamburgers, là một trong những khách hàng đầu tiên của Sanders. Nhưng không phải dễ dàng mà Sanders có được mối quan hệ làm ăn đó. “Lúc đầu, tôi rất băn khoăn về việc tại sao chúng tôi lại mất tiền cho một ông già như thế”, Dave kể. Tuy nhiên, lòng đam mê và sự kiên định của Sanders đã thuyết phục được Thomas và hàng trăm cơ sở kinh doanh khác.

Dường như kể từ khi bắt tay vào kinh doanh món gà rán, Sanders chẳng còn đam mê với điều gì khác nữa. Ông không bao giờ chơi golf hay quần vợt. Chẳng có sở thích nào khác ngoài kinh doanh đồ ăn nhanh có thể lôi cuốn được ông. Năm 1935, để ghi nhận những đóng góp của ông cho nghệ thuật ẩm thực của bang Kentucky, Thống đốc bang đã phong tặng ông tước hiệu “Kentucky Colonel” – Đại tá danh dự bang Kentucky. Bốn năm sau, những thiết lập ban đầu của ông đã được liệt kê trong danh sách Duncan Hines “Khám phá những món ăn ngon”.

Khi nhu cầu và những đòi hỏi khắt khe của người tiêu dùng về thức ăn lên cao, ông đã di chuyển nhiều nơi nhằm nâng cao năng suất của mình. Trong một thập kỷ sau, ông đã thành công với công thức pha chế bí mật của 11 loại hương vị và thảo mộc cùng với kỹ thuật nấu cơ bản mà vẫn được áp dụng đến ngày hôm nay.

Năm 1955, tự tin với chất lượng món gà rán của mình, ông tự phát triển và thành lập doanh nghiệp nhượng quyền thương hiệu. Xấp xỉ 10 năm sau, Sanders đã có hơn 600 franchise ở Mỹ và ở Canada. Năm 1964 ông đã bán phần lợi nhuận 2 triệu USD của mình trong công ty Mỹ cho một nhóm các nhà đầu tư, trong đó có John Y. Brown JR, người sau này trở thành thống đốc bang Kentucky.

Dưới sự quản lý của người sở hữu mới, tập đoàn Gà rán Kentucky đã phát triển nhanh chóng. Công ty đã thực hiện cổ phần hóa ra công chúng vào năm 1966 và được liệt kê trên thị trường chứng khoán New York vào năm 1969 và được mua lại bởi PepsiCo vào năm 1986. Đến năm 1997 PepsiCo đã chuyển hệ thống nhà hàng thức ăn nhanh, bao gồm cả nhãn hiệu KFC, sang một công ty về nhà hàng độc lập, gọi là Tricon Global Restaurant. Ngày nay, công ty nhà hàng (hiện giờ được gọi là tập đoàn Yum!Brands) là tập đoàn lớn nhất thế giới về số lượng cửa hàng với gần 35.000 cửa hàng trên khắp 110 quốc qua.

Tại Việt Nam sau 14 năm hoạt động, KFC đã trở thành một cái tên quen thuộc với người tiêu dùng.

Sự đam mê và cống hiến của Sanders là một nguồn động viên lớn đối với toàn bộ đội ngũ nhân viên của KFC. Một ông chủ cửa hàng từng nói: “Nếu mỗi năm tôi không mở một cửa hàng mới, tôi sẽ cảm thấy tôi đang bị Sanders nhấn chìm”.

Sanders là một người tỉ mỉ và thể hiện điều đó trong mọi việc ông làm. Ông biết đồ ăn ngon và việc tiếp thị có thể là không đủ với khách hàng. Ông đảm bảo mỗi cửa hàng đều duy trì tiêu chuẩn cao nhất về độ sạch sẽ và phục vụ khách hàng tốt nhất. Mọi thứ được sơn trắng để bất kỳ vết bẩn nào cũng bị phát hiện và xử lý ngay lập tức. Ông cũng là một trong những người kinh doanh nhà hàng đầu tiên đặt các lỗ giữa tường nhà bếp và phòng ăn để cho khách hàng nhìn thấy bếp và các món ăn được chuẩn bị như thế nào.

Đặc biệt sau khi chế biến xong, ông đến chỗ khách dùng món gà rán của mình và làm cái mà ông gọi là “Coloneling” để đảm bảo khách hàng hài lòng với món ăn và sự phục vụ. Ông đã bán bí quyết của mình với giá là 5 xu trên mỗi miếng gà bán tại các đại lý, và hầu hết các cuộc làm ăn được giao kèo chỉ với một cái bắt tay. Với Sanders, thái độ phục vụ, chất lượng và độ sạch là những ưu tiên hàng đầu với bất kỳ cơ sở nào. Ông muốn mọi thứ phải được thực hiện đúng cách. Dù đó đơn thuần là việc lau sàn hay chỉ cho người đầu bếp cách chuẩn bị nước sốt đặc biệt. Không có việc gì trong một nhà hàng mà Sanders không sẵn sàng làm.

Năm 1964, ở tuổi 74, Sanders có hơn 600 đại lý kinh doanh thịt gà ở Mỹ và Canada. Khi mất ở tuổi 90, ông đã du lịch 250.000 dặm mỗi năm để ghé thăm những cửa hàng ăn KFC trên khắp thế giới.

Sự chú ý của Sanders tới từng chi tiết đã khiến ông thu hút được số lượng khách hàng trung thành đáng kể. Họ biết rằng Sanders là đại diện cho một thương hiệu mà họ có thể tin cậy.

KFC là hệ thống nhà hàng phục vụ gà rán lớn nhất với hơn 10.000 nhà hàng tại 92 quốc gia. Tại Việt Nam sau 14 năm hoạt động, KFC đã trở thành một cái tên quen thuộc với người tiêu dùng. Hiện, KFC có hơn 3.000 lao động, trải dài khắp 19 tỉnh, thành, hàng năm thu hút khoảng 20 triệu lượt khách trong nước, chiếm khoảng 60% thị trường thức ăn nhanh Việt Nam.

Phương Thảo
Theo vnexpress

Steve Jobs kể về cuộc đời và cái chết trong diễn văn bất hủ

Steve Jobs kể về cuộc đời và cái chết trong diễn văn bất hủ

Những lời phát biểu tại lễ tốt nghiệp ở Đại học Stanford năm 2005 về thân thế, sự nghiệp, tình yêu và sự mất mát của Steve Jobs trở thành một trong những bài diễn văn để đời và đáng nhớ nhất trong lịch sử nhân loại.
Steve Jobs đã qua đời vào sáng 5/10/2011, khiến cả thế giới sửng sốt và tiếc nuối. Ông là người kín tiếng, gần như không bao giờ nói về đời tư và cuộc trò chuyện cởi mở nhất có lẽ là bài phát biểu dưới đây:

Steve Jobs – một biểu tượng công nghệ của thế giới. Ảnh: Apple.

“Tôi rất vinh dự có mặt trong lễ trao bằng tốt nghiệp của các bạn hôm nay tại một trong những trường đại học uy tín nhất thế giới. Tôi chưa bao giờ có bằng đại học. Phải thú nhận đây là lần tôi tiếp cận gần nhất với một buổi tốt nghiệp. Tôi muốn kể cho các bạn ba câu chuyện về cuộc đời tôi. Không có gì nhiều nhặn. Chỉ là ba câu chuyện.

Chuyện thứ nhất là về việc kết nối các dấu chấm (kết nối các sự kiện)

Tôi bỏ trường Reed College ngay sau 6 tháng đầu, nhưng sau đó lại đăng ký học thêm 18 tháng nữa trước khi thực sự rời trường. Vậy, vì sao tôi bỏ học?

Mọi chuyện như đã định sẵn từ trước khi tôi sinh ra. Mẹ đẻ tôi là một sinh viên, bà chưa kết hôn và quyết định gửi tôi làm con nuôi. Bà nghĩ rằng tôi cần được nuôi dưỡng bởi những người đã tốt nghiệp đại học nên sắp đặt để trao tôi cho một vợ chồng luật sư ngay trong ngày sinh. Tuy nhiên, mọi chuyện thay đổi vào phút chót bởi họ muốn nhận một bé gái hơn là tôi.

Vì thế, cha mẹ nuôi của tôi, khi đó đang nằm trong danh sách xếp hàng, đã nhận được một cú điện thoại vào nửa đêm rằng: “Chúng tôi có một đứa con trai không mong đợi, ông bà có muốn chăm sóc nó không?” và họ trả lời: “Tất nhiên rồi”. Mẹ đẻ tôi sau đó phát hiện ra mẹ nuôi tôi chưa bao giờ tốt nghiệp đại học còn cha tôi thậm chí chưa tốt nghiệp phổ thông trung học. Bà từ chối ký vào giấy tờ trao nhận và chỉ đồng ý vài tháng sau đó khi bố mẹ hứa rằng ngày nào đó tôi sẽ vào đại học.

Sau đó 17 năm, tôi thực sự đã vào đại học. Nhưng tôi ngây thơ chọn ngôi trường đắt đỏ gần như Đại học Stanford vậy. Toàn bộ số tiền tiết kiệm của bố mẹ tôi phải dồn vào trả học phí cho tôi. Sau 6 tháng, tôi thấy việc đó không hề hiệu quả. Tôi không có ý niệm về những gì muốn làm trong cuộc đời mình và cũng không hiểu trường đại học sẽ giúp tôi nhận ra điều đó như thế nào. Tại đó, tôi tiêu hết tiền mà cha mẹ tiết kiệm cả đời. Vì vậy tôi ra đi với niềm tin rằng mọi việc rồi sẽ ổn cả. Đó là khoảnh khắc đáng sợ, nhưng khi nhìn lại, đấy lại là một trong những quyết định sáng suốt nhất của tôi. Tôi bắt đầu bỏ những môn học bắt buộc mà tôi không thấy hứng thú và chỉ đăng ký học môn tôi quan tâm.

Tôi không có suất trong ký túc, nên tôi ngủ trên sàn nhà của bạn bè, đem đổi vỏ chai nước ngọt lấy 5 cent để mua đồ ăn và đi bộ vài km vào tối chủ nhật để có một bữa ăn ngon mỗi tuần tại trại Hare Krishna. Những gì tôi muốn nói là sau này tôi nhận ra việc cố gắng theo đuổi niềm đam mê và thỏa mãn sự tò mò của mình là vô giá.

Tôi sẽ kể cho các bạn một ví dụ: Đại học Reed khi đó có lẽ là trường tốt nhất dạy về nghệ thuật viết chữ đẹp ở Mỹ. Khắp khuôn viên là các tấm áp-phích, tranh vẽ với những dòng chữ viết tay tuyệt đep. Vì tôi đã bỏ học, tôi quyết định chỉ đăng ký vào lớp dạy viết chữ để tìm hiểu họ làm điều đó thế nào. Tôi học cách biến hóa với nét bút, về khoảng cách giữa các chữ, về nét nghiêng, nét đậm. Đây là môn học nghệ thuật và mang tính lịch sử mà khoa học không thể nắm bắt được và tôi thấy nó thật kỳ diệu.

Những thứ này khi đó dường như chẳng có chút ứng dụng thực tế nào trong cuộc đời tôi. Nhưng 10 năm sau, khi chúng tôi thiết kế máy Macintosh, mọi thứ như trở lại trong tôi. Và chúng tôi đưa nó vào trong Mac. Đó là máy tính đầu tiên có các font chữ đẹp. Nếu tôi không bỏ học chỉ để theo một khóa duy nhất đó, máy Mac sẽ không bao giờ được trang bị nhiều kiểu chữ hoặc có được sự cân xứng về khoảng cách các chữ như vậy (sau này Windows đã sao chép lại). Nếu tôi không bỏ học, tôi có lẽ sẽ không bao giờ tham gia lớp nghệ thuật viết chữ và máy tính có lẽ không có được hệ thống chữ phong phú như hiện nay.

Tất nhiên, chúng ta không thể kết nối các dấu ấn tương lai, bạn chỉ có thể móc nối chúng khi nhìn lại quá khứ. Vậy hãy tin rằng các dấu chấm, các sự kiện trong cuộc đời bạn về mặt này hay mặt khác sẽ ảnh hưởng đến tương lai của bạn. Bạn phải có niềm tin vào một thứ gì đó – sự can đảm, số phận, cuộc đời, định mệnh hay bất cứ điều gì – cách nghĩ đó đã tạo nên những sự khác biệt trong cuộc đời tôi.

Câu chuyện thứ hai là về tình yêu và sự mất mát

Tôi may mắn khi đã nhận ra những gì tôi yêu quý ngay từ khi còn trẻ. Woz (Steve Wozniak) cùng tôi sáng lập Apple tại garage của bố mẹ khi tôi mới 20 tuổi. Chúng tôi làm việc miệt mài trong 10 năm và phát triển từ một cái nhà xe thành một công ty trị giá 2 tỷ USD với 4.000 nhân viên. Chúng tôi cho ra đời thành quả sáng tạo – Macintosh – khi tôi mới bước sang tuổi 30.

Sau đó, tôi bị sa thải. Sao bạn lại có thể bị sa thải tại ngay công ty mà bạn lập ra? Apple đã thuê một người mà tôi nghĩ là đủ tài năng để điều hành công ty với mình và năm đầu tiên, mọi thứ đã diễn ra tốt đẹp. Nhưng sau đó, tầm nhìn về tương lai của chúng tôi khác nhau và không thể hợp nhất. Khi đó, ban lãnh đạo đứng về phía ông ấy. Ở tuổi 30, tôi phải ra đi. Những gì tôi theo đuổi cả đời đã biến mất, nó đã bị phá hủy.

Tôi không biết phải làm gì trong những tháng tiếp theo. Tôi cảm thấy như mình đã đánh rơi mất cây gậy trong cuộc chơi khi người ta vừa trao nó cho tôi. Tôi đã gặp David Packard và Bob Noyce, cố gắng xin lỗi vì đã làm mọi chuyện trở nên tồi tệ. Tôi còn nghĩ đến chuyện bỏ cuộc. Nhưng mọi thứ bắt đầu kéo tôi trở lại. Tôi vẫn yêu những gì tôi làm. Bước ngoặt tại Apple không thay đổi con người tôi. Tôi bị từ chối, nhưng tôi vẫn còn yêu. Vì thế tôi quyết định làm lại từ đầu.

Khi đó tôi đã không nhận ra, nhưng hóa ra bị sa thải lại là điều tốt nhất dành cho tôi. Sức ép duy trì sự thành công đã được thay thế bằng tinh thần nhẹ nhàng của người mới bắt đầu lại và không chắc về những gì sẽ diễn ra. Nó giải phóng tôi để bước vào giai đoạn sáng tạo nhất cuộc đời.

Trong năm năm tiếp theo, tôi thành lập NeXT và một công ty khác mang tên Pixar và phải lòng một người phụ nữ tuyệt vời, người trở thành vợ tôi sau này. Pixar tạo ra bộ phim từ đồ họa máy tính đầu tiên trên thế giới – Toy Story và hiện là xưởng phim hoạt hình thành công nhất toàn cầu. Apple mua lại NeXT, tôi trở lại và công nghệ tôi phát triển ở NeXT là trọng tâm trong cuộc phục hưng Apple. Tôi và vợ Laurene cũng có một cuộc sống gia đình tuyệt vời.

Steve Jobs tại NeXT sau khi bị Apple sa thải. Ảnh: AP.

Tôi khá chắc chắn rằng những điều trên sẽ không xảy ra nếu tôi không bị Apple sa thải. Nó như một liều thuốc đắng và kinh khủng, nhưng bệnh nhân cần nó. Đôi khi cuộc đời sẽ giáng một viên gạch vào đầu bạn. Đừng mất niềm tin. Tôi hiểu thứ duy nhất khiến tôi vững vàng chính là niềm đam mê. Bạn phải tìm ra bạn yêu cái gì. Nó đúng cho công việc và cho cả những người thân yêu của bạn. Công việc chiếm phần lớn cuộc đời và cách duy nhất để thực sự hài lòng là làm những gì bạn tin nó sẽ trở nên tuyệt vời. Và cách duy nhất có công việc tuyệt vời là yêu những gì bạn làm. Nếu chưa nhận ra, hãy tiếp tục tìm kiếm. Đừng dừng lại. Như mọi mối quan hệ trong cuộc đời, nó sẽ trở nên ngày càng tốt đẹp hơn qua từng năm.

Câu chuyện thứ ba là về cái chết.

Khi 17 tuổi, tôi đọc ở đâu đó rằng: “Nếu sống mỗi ngày như thể đó là ngày cuối cùng, một ngày nào đó bạn sẽ đúng”. Điều đó gây ấn tượng với tôi và 33 năm qua, tôi nhìn vào gương mỗi sáng và hỏi: “Nếu hôm nay là ngày cuối của cuộc đời mình, mình có muốn làm những gì định làm hôm nay không?”. Nếu câu trả lời là “Không” kéo dài trong nhiều ngày, đó là lúc tôi biết tôi cần thay đổi.

Luôn nghĩ rằng mình sẽ sớm chết là công cụ quan trọng nhất giúp tôi tạo ra những quyết định lớn trong đời. Vì gần như mọi thứ, từ hy vọng, niềm tự hào, nỗi sợ hãi, tủi hộ hay thất bại, sẽ biến mất khi bạn phải đối mặt với cái chết, chỉ còn lại điều thực sự quan trọng với bạn. Nghĩ rằng mình sắp chết là cách tốt nhất tôi tránh rơi vào bẫy rằng tôi sẽ mất cái gì đó. Khi không còn gì nữa, chẳng có lý gì bạn không nghe theo lời mách bảo của trái tim.

Một năm trước, tôi biết mình bị ung thư. Tôi được chụp cắt lớp lúc 7h30 và nhìn thấy rõ khối u trong tuyến tụy. Tôi còn chẳng biết tuyến tụy là cái gì. Bác sĩ bảo tôi bệnh này không chữa được và tôi chỉ có thể sống thêm 3 đến 6 tháng nữa. Ông ấy khuyên tôi về nhà và sắp xếp lại công việc, cố gắng trò chuyện với bọn trẻ những điều mà tôi định nói với chúng trong 10 năm tới, nhưng giờ phải tâm sự trong vài tháng. Nói cách khác, hãy nói lời tạm biệt.

Tối hôm đó, tôi được kiểm tra sinh thiết. Họ đút một ống qua cổ họng tôi xuống dạ dày và ruột rồi đặt một cái kim vào tuyến tụy để lấy mẫu tế bào khối u. Tôi giữ thái độ bình thản, và vợ tôi, cũng có mặt lúc đó, kể với tôi rằng khi các bác sỹ xem các tế bào dưới kính hiển vi, họ đã reo lên khi phát hiện đây là trường hợp ung thư tuyến tụy hiếm hoi có thể chữa được bằng phẫu thuật. Tôi đã được phẫu thuật và bây giờ tôi đã khỏe lại.

Steve Jobs mất ngày 5/10. Ảnh: Yahoo News.

Đó là lần gần nhất tôi đối mặt với cái chết. Tôi hy vọng lần tiếp theo sẽ là vài thập kỷ nữa. Không ai muốn chết. Ngay cả người mong được lên thiên đường cũng không muốn chết để tới đó. Nhưng cái chết là đích đến mà chúng ta đều phải tới. Không ai thoát được nó. Cái chết như là phát minh hay nhất của sự sống. Nó là tác nhân thay đổi cuộc sống. Nó loại bỏ sự cũ kỹ (người già) để mở đường cho cái mới (lớp trẻ). Các bạn chính là thế hệ trẻ, nhưng ngày nào đó sẽ già đi và rời bỏ cuộc sống. Xin lỗi vì đã nói thẳng nhưng điều đó là sự thật.

Thời gian của bạn không nhiều, đừng lãng phí bằng cách sống cuộc đời của người khác. Đừng nghe những lời giáo điều, vì đó là suy nghĩ của người khác. Đừng để những quan điểm ồn ào lấn át tiếng nói bên trong bạn. Chúng biết bạn muốn gì. Mọi thứ khác chỉ là thứ yếu.

Khi tôi còn trẻ, có một cuốn sách thú vị là The Whole Earth Catalog (Cẩm nang thế giới). Nó giống như một cuốn kinh thánh, kim chỉ nam của thế hệ tôi. Tác giả Steward Brand tạo ra nó vào thập niên 60, trước thời máy tính cá nhân. Nội dung sách được soạn bằng máy đánh chữ, bằng kéo và bằng máy ảnh polaroid. Nó như Google trên giấy vậy. Ở bìa sau của cuốn sách có in ảnh một con đường trong ánh bình minh, bên dưới là dòng chữ: “Sống khát khao. Sống dại khờ”. Tôi luôn chúc điều đó cho chính mình. Hôm nay, các bạn tốt nghiệp và sắp bước vào cuộc đời mới, tôi cầu chúc điều đó cho các bạn.

Hãy luôn khao khát. Hãy luôn dại khờ”.

Xem video Bài diễn văn bất hủ của Steve Jobs tại lễ tốt nghiệp Đại học Stanford (2005)

Page 2 of 212